Chinese English
  • Khám phá di sản văn hóa thế giới mới tại Việt Nam
  • Khám phá di sản văn hóa thế giới mới tại Việt Nam

    Ngày : 09/09/2017

    Trong một ngày đẹp trời giữa tháng 7, chúng tôi từ biển Sầm Sơn hướng về phía Bắc Thanh Hóa để đến với thành nhà Hồ, di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam vừa được UNESSCO công nhận vào hồi tháng 6.   Thành nhà Hồ hiện thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, từ thành phố Thanh Hóa, theo Quốc lộ 45 ngược lên phía Bắc (cách Hà Nội khoảng 150 km).   Khu di tích được Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397, vào đời vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398). Thành nhà Hồ còn được gọi với cái tên là Tây Đô, từng là kinh đô của đất nước vào thời kỳ cuối triều Trần và triều Hồ.   Giữa những cánh đồng rộng mênh mông, bầu trời xanh trong vắt, cổng thành hiện lên sừng sững. Hình ảnh gợi lên vị thế uy phong của triều đại ngắn ngủi nhất trong lịch sử Việt Nam (1400 - 1407) Mặt trước cổng chính của thành nhà Hồ.   Cổng thành nhìn từ phía trong ra. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng bằng đá lớn và độc đáo ở Việt Nam. Toàn bộ công trình được xây dựng trên một diện tích, với hai mặt Nam - Bắc dài 900 m, Đông và Tây dài 700 m.   Những khối đá lớn có chiều cao khoảng 1 m, dày 20-30 cm được chồng lên nhau tạo thành những tường thành cao 7-10m, vững chãi bao quanh 4 phía khu di tích. Đó là những tảng đá có màu xanh, được đẽo rất vuông, có tấm dài tới 5,1 m, rộng 1,59 m, cao 1,3 m. Điều đặc biệt là những phiến đá này được xếp chồng lên nhau mà không cần chất kết dính nào.   Hơn 600 năm đã trôi qua với bao vật đổi sao dời, những phiến đá vẫn vững chãi uy nghi. Như chứng minh rằng, dù chỉ xuất hiện trong lịch sử với một quãng thời gian quá ngắn, nhưng triều đại nhà Hồ, với những cái tên như Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng.... Những khối đá chồng lên nhau tạo nên công trình kiến trúc đồ sộ. Đứng từ trên cổng thành, giữa mênh mông đất trời, nhìn về phía xa xa thấp thoáng những cổng thành nhỏ ở các phía Đông, Tây, Bắc. Các cửa thành ở mỗi hướng được xây dạng cửa cuốn, có 3 vòm, vòm ở giữa to vượt trội so với hai vòm bên cạnh. Từ trung tâm của thành nhà Hồ nhìn về phía Nam. Các cổng thành ở 3 phía còn lại. Ngay sau khi thành nhà Hồ được công nhận là di sản văn hóa thế giới, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã đưa công trình trở thành điểm du lịch trọng tâm của tỉnh. Ngay trước cổng thành, với giá vé 10.000 đồng, du khách sẽ được hướng dẫn viên du lịch giải thích cặn kẽ lịch sử hình thành và giá trị của công trình.   Chính vì thế, những ngày này lượng khách du lịch đến với thành nhà Hồ khá đông đảo. Không ít bạn trẻ đã đi xe máy đến đây để khám phá công trình đá độc đáo này. Những bó hoa huệ được đặt trên cổng thành như lòng thành kính của thế hệ sau đối với nhà Hồ. Giới trẻ khám phá thành nhà Hồ.   Nguồn: Bưu điện Việt Nam

  • Vẻ đẹp của những di sản thiên nhiên thế giới
  • Vẻ đẹp của những di sản thiên nhiên thế giới

    Ngày : 09/09/2017

    1. Khu bảo vệ hải dương quốc gia Papahānaumokuākea, Mỹ Khu bảo vệ hải dương quốc gia Papahānaumokuākea nằm ở phía tây bắc quần đảo Hawaii, Hoa Kỳ. Papahānaumokuākea có diện tích 360.000 km2 với chiều rộng là 1.200 dặm (tương đương với khoảng 1.931 km) bao gồm 10 hòn đảo và đảo vòng san hô. Với người dân Hawaii bản địa, nơi đây chính là khởi nguồn sự sống và kết thúc cái chết của các linh hồn. Sinh vật trong khu bảo tồn hải dương quốc gia Papahānaumokuākea. Ảnh: NatGeo Khu vực này đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới (di sản thiên nhiên) tại cuộc họp của Uỷ ban di sản UNESCO lần thứ 34 được tổ chức ở Brasilia, Brazil. Khu vực biển đảo này đã được tuyên bố là Khu vực bảo vệ quốc gia tây bắc Hawaii với quyết định do tổng thống Mỹ, George W. Bush, ký vào ngày 15 tháng 6 năm 2006 và được đổi tên thành Papahānaumokuākea năm 2007. 2. Công viên quốc gia La Réunion, Pháp Một cảnh quan thực sự quá đẹp và hấp dẫn, vườn quốc gia La Réunion thuộc đảo Réunion, phía nam Ấn Độ Dương, thuộc Pháp xứng đáng giành được một vị trí trong di sản thiên nhiên thế giới. Vẻ đẹp của công viên quốc gia La Réunion. Ảnh: NatGeo La Réunion rộng 247.000 acre (100.000 ha) với một sự phong phú đáng ngạc nhiên về các loại địa hình, thảm thực vật, phong cảnh: từ những đỉnh núi nhọn cao chót vót, những dốc núi thoai thoải với cây xanh hay những hồ nước rộng… Đây cũng là một trong những hệ sinh thái vô cùng có giá trị của thế giới với vai trò là nơi trú ẩn và bảo vệ cho rất nhiều loài động – thực vật quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng của thế giới. Tuy nhiên, hiện nay khu vực này cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ xâm hại mới và đòi hỏi có những biện pháp bảo tồn thích đáng. 3. Cao nguyên Putorana Cao nguyên Putorana, Xibiri, Nga, là nơi có vẻ đẹp tự nhiên thật sự ấn tượng. Ở đây, hơn 25.000 hồ nước, hàng chục hẻm núi sâu, sông, suối, hàng ngàn thác nước… cùng tạo nên một vẻ đẹp tự nhiên độc đáo, vô cùng hấp dẫn. Thác nước ở cao nguyên Putorana. Ảnh: NatGeo Sự đa dạng của cảnh quan, địa lý xa xôi và sự hoang sơ khiến cho cao nguyên Putorana trở thành một trong những vùng đất hoang dã, tự nhiên hiếm có. Đồng thời cũng làm tăng thêm tính lôi cuốn của mảnh đất này. Đây cũng là nơi cư trú của loài hươu phương Bắc và loài cừu tuyết, một trong những loài động vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ. 4. Cao nguyên Trung tâm Sri Lanka Màu xanh của cao nguyên Sri Lanka. Ảnh: NatGeo Những khu rừng của cao nguyên Trung tâm Sri Lanka là nơi sinh sống của một loạt các động – thực vật quý hiếm (vượn cáo mặt tía, culi Horton Plains…). Cùng với đó, cảnh quan được xếp vào loại tuyệt mỹ cũng giúp nó trở thành một trong những di sản thiên nhiên của thế giới. 5. Khu bảo tồn biển Phoenix Khu bảo tồn biển Phoenix - Phoenix Islands Protected Area (PIPA), thuộc đất nước nhỏ bé Kiribati. Kiribati nằm ở trung tâm Thái Bình Dương và được tạo thành bởi các quần đảo Gilbert, quần đảo Line, và quần đảo Phoenix. Trong đó, quần đảo Phoenix là một trong những hệ sinh thái đảo san hô ngoài đại dương chưa bị con người tác động còn lại của trái đất.   Khu bảo tồn biển Phoenix. Ảnh: NatGeo Khu vực này bao gồm 8 đảo san hô, 2 hệ thống san hô dạng chìm và các dãy núi ngầm cùng các sinh cảnh biển sâu khác với diện tích 158.453 dặm vuông (tương đương 410.500 km2). Phoenix hầu như không có con người sinh sống và sở hữu một sự phong phú tuyệt vời về các loài sinh vật biển, chim biển: 120 loài san hô, 800 loài động vật với 500 loài cá, 18 loài động vật biển có vú… 6. Vách đá Danxia, Trung Quốc Những vách đá màu đỏ rất đặc biệt trên nền xanh của cây cối đã tạo nên vẻ đẹp tự nhiên của Danxia, một vùng phía tây nam Trung Quốc.   Danixa là nơi sinh sống của hơn 400 loài động thực vật quý hiếm. Ảnh: NatGeo Nơi đây, một loạt các loại đia hình tự nhiên: trụ cột đá, tháp đá, các khe núi, các thung lũng, thác nước đã kết hợp với nhau một cách hài hòa và tạo nên sức lôi cuốn của vẻ đẹp hoang sơ. Đây cũng là khu vực sinh sống của nhiều động – thực vật quý hiếm (khoảng 400 loài) đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. 7. Vườn quốc gia Everglades Vườn quốc gia Everglades có diện tích 6.105 km2 với chủ yếu là các hệ sinh thái rừng ngập mặn. Khu vực hoang dã tự nhiên này đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa rất lớn với việc ô nhiễm nitơ và phốtpho, thúc đẩy tảo phát triển, gây ảnh hưởng đến đời sống của các loài sinh vật.   Một con rắn chuông trong vườn quốc gia Everglades. Ảnh: NatGeo Everglades đã từng có mặt trong danh sách di sản bị đe dọa của UNESCO vào năm 1993 sau thiệt hại do cơn bão Andrew. Năm 2007, vườn quốc gia Everglades được đưa ra khỏi danh sách này nhờ những nỗ lực để phục hồi hệ sinh thái ở đây. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh rằng những nỗ lực đó không quá thành công. Và những nỗ lực mới để có thể phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái ngập mặn này đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn bởi các nhà khoa học và các hiệp hội bảo vệ môi trường. 8. Rừng mưa Atsinanana Rừng mưa nhiệt đới Atsinanana thuộc Madagascar. Năm 2009, một cuộc đảo chính đã diễn ra tại Madagascar và mở đường cho cuộc “cướp bóc” khu rừng mưa Atsinanana ở phía đông bắc đất nước này.   Rừng mưa Atsinanana vô cùng phong phú về cảnh sắc. Ảnh: NatGeo Khai thác gỗ một cách bất hợp pháp, săn bắt vượn cáo quý hiếm… sự thiệt hại nghiêm trọng về tài nguyên môi trường đã được kéo theo bởi sự khủng hoảng chính trị. Sự thiệt hại nghiêm trọng về tài nguyên môi trường ở rừng mưa Atsinanana cũng làm tan vỡ ngành công nghiệp du lịch, vốn là nguồn thu nhập chủ yếu của quốc gia này. Những người đứng đầu của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN hi vọng rằng việc rừng mưa Atsinanana có mặt trong danh sách di sản thiên nhiên thế giới đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng sẽ khiến cộng động thế giới nhìn nhận lại và ngăn chặn một cách nghiêm túc sự hủy diệt của người Madagascar với tài nguyên thiên nhiên này. Di Sản Văn Hoá Thế Giới - (vietnamnet)

  • Những công trình kiến trúc Thế Giới mê đắm lòng người
  • Những công trình kiến trúc Thế Giới mê đắm lòng người

    Ngày : 09/09/2017

      Đền Taj Mahal (Ấn Độ) "Ngôi đền tình yêu" bằng cẩm thạch trắng cần tới 23 năm mới xây dựng xong để làm lăng mộ cho hoàng hậu Arjumand Banu Begum, người vợ yêu của hoàng đế Shah Jahan. Thiết kế bên trong của đền thể hiện sự thay đổi thời gian trong ngày, và toàn cảnh đẹp huyền hoặc trong đêm trăng rằm. Từ tháng 3 tới tháng 10 là thời gian phù hợp nhất để thăm đền Taj Mahal. Vạn lý trường thành (Trung Quốc) Với chiều dài 6.350 km, phần lớn được xây dựng từ thế kỷ 15 và 16, trong đó có những đoạn có từ cách đây 2.000 năm, bức tường vĩ đại một thời bao bọc Trung Quốc khỏi nạn ngoại xâm luôn luôn khiến du khách phải sững sờ. Thành cổ Machu Picchu (Peru) "Thành phố đã mất" của nền văn minh da đỏ Inca nằm ở độ cao 2.350 m giờ còn lại những đền đài, cung điện, nhà tắm. Các nhà thám hiểm tìm ra công trình này năm 1911. Nhiều dấu vết chứng tỏ Machu Picchu được xây dựng từ khoảng năm 1440, là nơi hoàng gia Inca ở ẩn thời tao loạn.  Du khách phải đăng ký với một công ty du lịch được cấp phép trước 6 tháng mới có thể tới thăm Machu Picchu. Angkor Wat (Campuchia) Tổ hợp đền đài này được xây dựng từ thế kỷ 12, trải qua nhiều đời vua Khmer, tạo nên trung tâm hành chính và tôn giáo của Campuchia. Angkor Wat là nơi Vishnu, vị thần tối cao của đạo Hindu. Angkor bị bỏ hoang từ thế kỷ 15. Dần dần cây cối mọc rậm rạp thành rừng bao phủ nơi đây.  Để tránh phải chen chúc với nhiều du khách khác, hãy chịu khó dậy sớm, tới thăm Angkor từ lúc bình minh. Tượng đá Stonehenge (Anh) Chẳng ai biết rõ tại sao 50 tảng đá này lại xuất hiện cách đây 5.000 năm. Chúng ta chỉ biết rằng, phải cần tới 600 người mới có thể di chuyển được một tảng đá vài cm. Đại kim tự tháp Giza (Ai Cập) Pharaoh Khufu đã cần tới 2 triệu tảng đá (mỗi tảng nặng 2 tấn) để xây dựng nơi an nghỉ vĩnh hằng của mình. Tướng Antony (nhân tình của nữ hoàng Cleopatra) và hoàng đế Napoleon là một trong số vô vàn vĩ nhân và du khách đã đến thăm thú nơi đây.  Hãy uống thật nhiều nước, mang một ít đồ ăn nhẹ khi bạn thăm quan kim tự tháp. Và nhớ cẩn thận với phân lạc đà khắp nơi nhé. Tháp Eiffel (Pháp) Công trình bằng thép khổng lồ (cao 324 m) ddwwocj xây dựng năm 1889 để kỷ niệm 100 năm Cách mạng tư sản Pháp. Eiffel được thắp sáng bằng 10.000 bóng đèn mỗi khi màn đêm buông xuống và trở thành biểu tượng của Paris - kinh đô ánh sáng.  Hãy chuẩn bị tinh thần để xếp hàng 2 giờ đồng hồ mới tới được đỉnh tháp nếu bạn đi vào mùa du lịch cao điểm. Tháp đồng hồ Big Ben (Anh) Đây là "tên thân mật" của tháp đồng hồ và chuông nằm trên điện Westminster (London). Hiện nay, nặng 13,75 tấn, hiện nay Big Ben đã bị nghiêng khoảng 22 cm về phía tây bắc.  Chỉ có công dân vương quốc Anh mới được đăng ký tour tham quan bằng cách trèo tháp, và thường phải chờ từ 3 đến 6 tháng. Núi Rushmore (Mỹ) Gương mặt cao 18 m của 4 tổng thống Mỹ ( Washington, Jefferson, Lincoln và Roosevelt) đã được khắc vào vách núi từ nửa đầu thế kỷ 10 để kỷ niệm 150 năm nước Mỹ hiện đại.  Không nên tới thăm Rushmore vào tháng 5 vì quá đông khách, và cũng nên tránh tháng 9 do thời tiết lạnh giá, không thuận lợi.   Di Sản Văn Hoá Thế Giới

  • Thăm nhà cổ Bình Thủy, Cần Thơ
  • Thăm nhà cổ Bình Thủy, Cần Thơ

    Ngày : 09/09/2017

    Kho cổ vật quý hiếm đất Tây Đô Dừng xe ta-xi, đi bộ từ ngoài đường chính vào vườn lan Bình Thủy quãng chừng hơn 100 m thì tới. Ngôi nhà cổ được gia đình họ Dương xây vào năm 1870 nằm ẩn sâu so với những ngôi nhà cao tầng hiện đại đang tấp nập mọc lên nơi đây. Bước chân qua cánh cổng sắt, mà sau này qua cuộc trò chuyện với chủ nhân hiện tại của ngôi nhà, chúng tôi được biết, cùng với gạch bông hoa hồng đỏ đen lát nền nhà được chủ nhân kỳ công đặt và vận chuyển từ Pháp sang, ngôi nhà mang dáng dấp kiểu Pháp với nền nhà cao hơn so với mặt sân một mét hiện ra vừa sang trọng, vừa có vẻ đẹp lạ lẫm. Đang ngó nghiêng tìm lối vào nhà, tiếng người đàn bà với chất giọng nhẹ nhàng của phụ nữ Nam Bộ cất lên: "Cô chú cứ ra đằng trước, tôi lên mở cửa liền".Để lên được bậc thềm nhà, phải bước lên bốn bậc thang hình cánh cung tao nhã, trang trí hoa văn nối kết tòa nhà với khoảng sân rộng. Người đàn bà nhỏ nhắn mở cửa cho chúng tôi là bà Ngô Thị Ngọc Liên, vợ của trưởng nam hậu duệ đời thứ sáu chủ ngôi nhà này. Trước đây, bà là giáo viên dạy cấp hai. Sau ngày về hưu, hằng ngày bà dậy từ năm giờ sáng, đi chợ, lo toan cơm nước cho đại gia đình, sau đó mở cửa đón tiếp du khách thăm quan. Những lúc rỗi rãi hoặc không có khách, bà lại tỉ mẩn lau chùi, quét dọn một cách công phu từng thứ đồ đạc trong ngôi nhà.Kiến trúc bên trong theo phong cách truyền thống gia đình Việt Chưa kịp trầm trồ hết sự tinh tế và tài hoa trong phong cách kiến trúc Pháp phía ngoài ngôi nhà, vừa bước chân vào bên trong, chúng tôi đều ồ lên một cách bất ngờ khi toàn bộ nội thất bên trong ngôi nhà hoàn toàn theo phong cách kiến trúc, bài trí đặc trưng của một gia đình Việt. Nơi trang trọng nhất tại gian giữa của ngôi nhà là bàn thờ, khán thờ tổ tiên ông bà được sơn son, thếp vàng, giường thờ, sập gụ cẩn xà cừ, chạm khắc cực kỳ tinh xảo theo chủ đề sinh hoạt sông nước miền Tây Nam Bộ. Ðiều quý giá hơn nữa là ngôi nhà sở hữu một "kho đồ cổ" được gìn giữ từ bao đời như: hai bộ bàn ghế xuất xứ từ Vân Nam (Trung Quốc), mặt bàn bằng đá cẩm thạch, vân xanh, đường kính 1,5m, dầy hơn 6cm; bộ xa lông kiểu Pháp đời Lu-i XV mặt bàn bằng đá cẩm thạch sắc xanh; chùm đèn bạch đăng thế kỷ 18; cặp đèn treo thế kỷ19... Thảo nào mà thú chơi đồ cổ của gia đình họ Dương đất Bình Thủy từng lẫy lừng "lục tỉnh" một thời vẫn còn nguyên vẹn đến ngày hôm nay. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, chỉ cần bỏ hai, ba cây vàng đã mua được căn nhà lầu giữa phố chợ, có người đến trả chủ nhân ngôi nhà đôi bình thượng ngọc men xanh cao 1,2m giá tới 25 cây vàng, hay "vua muối" đất Bạc Liêu Trần Trinh Trạch từng đòi gia chủ nhượng lại đôi ngà voi mua trên Sài Gòn những năm 40 với giá "bao nhiêu cũng được", nhưng họ Dương nhất định không chịu. Bà Liên cho biết, cho đến tận bây giờ, dân săn lùng đồ cổ vẫn thường xuyên tìm về đây “gạ” gia đình bán những thứ đồ cổ có trong ngôi nhà... Bà nói: "Tôi về làm dâu gia đình họ Dương đã 40 năm, có những đận gia đình túng thiếu, không có cái ăn, bản thân bố chồng tui là ông Dương Văn Ngôn và chồng tui phải đi làm mướn kiếm tiền nhưng vẫn không bán đồ gia bảo của gia đình". Khi Nam Bộ bị thực dân Pháp chiếm đóng, gia đình bà đi tản cư thực hiện “tiêu thổ kháng chiến” cũng chỉ đem theo được một số đồ vật quý chứ không thể mang hết vật dụng trong gia đình. Thực dân Pháp đã chiếm đóng và cho quân ở trong ngôi nhà này ba năm liền. Khi ấy, chiến tranh đã khiến cả hai bên từng có ý định phá hủy ngôi nhà vì không muốn bên nào sở hữu. Bà cười: "Nếu thực hiện được ý định đó thì bây giờ Nhà nước, Cần Thơ đã mất đi một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia". Bà Liên cũng cho biết ngôi nhà giờ là nhà thờ của họ Dương. Ngày thường mở cửa đón khách, còn những ngày lễ, Tết, giỗ của dòng họ, là nơi tập trung con cháu tưởng nhớ đến tổ tiên và dịp gặp gỡ, ăn uống linh đình. Đồ dùng sinh hoạt bằng gốm cổ. Cơ duyên với văn học, nghệ thuật Nhà cổ Bình Thủy còn nổi tiếng trong và ngoài nước bởi rất có cơ duyên với nghệ thuật thứ bảy. Nơi đây, từng là bối cảnh cho hàng chục bộ phim nổi tiếng như “Những nẻo đường phù sa”, ”Người đẹp Tây Đô”, “Nợ đời”, hiện vẫn lưu giữ nhiều bút tích của các diễn viên đóng phim như Việt Trinh, Mỹ Uyên. Đặc biệt, đạo diễn người Pháp JJ.Annaud từng ở trong ngôi nhà suốt một tuần lễ chỉ đạo những cảnh quay trong bộ phim “Người tình”. Theo chủ nhân của ngôi nhà kể lại, vẻ đẹp cổ kính và sang trọng của ngôi nhà đã khiến ông đạo diễn khó tính phải sửng sốt và khẳng định chính nội thất của ngôi nhà đã nâng thêm giá trị cho bộ phim. Sau này, đạo diễn JJ.Annaud tâm sự, những ngày ở tại nhà cổ Bình Thủy là ngày rất đẹp trong cuộc đời làm phim của ông.Anh chị Monia và Franco, du khách I-ta-li-a đi vài vòng quanh ngôi nhà, tỉ mẩm ngắn nhìn từng đồ vật một cách lạ lẫm và thích thú. Đặc biệt dừng lại hồi lâu bên bút tích của người đạo diễn tài ba người Pháp, Monia cho biết: "Chúng tôi biết đến ngôi nhà qua bộ phim “Người tình”. Khi đến thăm quan nơi này thấy phong cảnh rất đẹp, càng hiểu rõ giá trị của bộ phim, hiểu thêm bối cảnh lịch sử mà bộ phim đề cập". Các loại hoa lan quý vẫn nở hoa rực rỡ trong vườn. Nhà thờ họ Dương gắn liền với một cái tên nổi tiếng trong vùng là Vườn lan Bình Thủy. Hậu duệ đời thứ năm của ngôi nhà là ông Dương Văn Ngôn có thú chơi hoa kiểng, xương rồng. Vào thập niên 60, ông đã sưu tầm được nhiều giống lan quý rồi tổ chức các hội chơi lan, kết hợp mở tuyến du lịch thăm quan ngôi nhà vào những năm 1980 để những người cùng sở thích có dịp trao đổi kinh nghiệm, cùng thưởng thức thú chơi hoa. Nhiều cuộc đàm luận thơ của các thi nhân xứ sở Cầm Thi đã diễn tại đây nên nơi này còn được gọi là Tao Đàn Năm Ngôn hay Tao đàn ông Ngôn. Trước sân nhà hiện vẫn giữ được hòn non bộ, hoa lan và nhiều loại hoa cây cảnh khác bốn mùa nở hoa. Bên phải phía trước ngôi nhà còn có cây xương rồng Mexico Kim lăng trụ cao tới 10m, 40 năm tuổi. Vào năm 2005 cây ra hoa lần đầu tiên, ai từng chứng kiến đều nói trông rất lạ mắt.Chiếc bồn sứ bồn rửa tay bằng men sứ trắng, hoa xanh đặt trên bục gỗ của Pháp thế kỷ 18. Thăm nhà cổ, ăn cỗ cổ Trải qua 140 năm tồn tại với thời gian, mưa nắng, nhà thờ dòng họ Dương hiện nay xuống cấp khá nhiều, một số ngói bị dột, thấm nước, tường nứt, hệ thống cột kèo bị mối mọt đục khoét... nhưng thật may, năm 2009, ngôi nhà được công nhận là di tích quốc gia, chính vì vậy đã được đưa và kế hoạch dự án bảo tồn, trùng tu, tôn tạo... Người quản lý ngôi nhà cũng là người con thứ hai của gia tộc họ Dương là ông Dương Minh Hiển cho biết hiện nay, ngôi nhà mới được đưa vào sử dụng một phần hai diện tích cho khách thăm quan. Ông Hiển cho biết trong thời gian tới sẽ phục dựng lại nguyên trạng chỗ sinh hoạt chính, chỗ tiếp khách, nơi thờ tự và chỗ ngủ của ông bà Hội đồng như trước đây. Điều ông Hiển trăn trở là ngôi nhà cổ Bình Thủy nói riêng và du lịch Cần Thơ đang thiếu những sản phẩm du lịch truyền thống. Vì vậy, trong thời gian tới, gia đình ông sẽ kết hợp với Công ty du lịch Cần Thơ mở rộng thêm 8.000 mét đất của gia đình và mở một khu ẩm thực đồng thời phục chế những món ăn cổ thất truyền từ thế kỷ 17, 18 để làm thành một mâm cỗ cổ: thịt kho dưa giá với loại giá phải ủ một tuần mới cho cây; món tôm kho tàu, cù lao, chả cua..., thức uống là loại rượu đặc sản chiết xuất từ quả vú bò, tráng miệng sẽ là món bánh đúc lá dứa chấm đường thốt nốt… Ông Hiển tự tin và hy vọng mỗi khi du khách mỗi khi ghé thăm ngôi nhà cổ sẽ được thưởng thức những món ăn cổ để được sống trọn vẹn trong một không gian cổ truyền của dân tộc cổ.   (TCDL)

  • Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản thế giới
  • Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản thế giới

    Ngày : 09/09/2017

    Sự kiện ý nghĩa đối với người dân Việt Nam, thủ đô trước thềm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội thông báo trong niềm vui của đoàn Việt Nam tại Brazil. Kỳ họp thứ 34 của Ủy ban Di sản thế giới đang diễn ra tại Brasilia, thủ đô của Brazil từ 25/7 đến 3/8. 39 hồ sơ đề cử được xem xét tại kỳ họp này, trong đó có 8 đề cử di sản thiên nhiên, 29 đề cử di sản văn hóa và 2 đề cử di sản hỗn hợp. Ngoài ra, có 9 hồ sơ đề nghị mở rộng phạm vi và giá trị di sản (đã được công nhận trước đó). Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài. Ảnh: Chinhphu.vn. Những nỗ lực của các thành viên đoàn Việt Nam đang có mặt tại Brasilia đã thuyết phục được 18 trong số 21 quốc gia thành viên Ủy ban Di sản thế giới. Theo bà Hằng, khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội mang trong mình những giá trị nổi bật toàn cầu bởi nơi đây, liên tục trong hơn một thiên niên kỷ là nơi giao thoa các giá trị nhân văn, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan hết sức độc đáo. Đây là trung tâm quyền lực nối tiếp nhau của Việt Nam trong hơn một nghìn năm lịch sử và là minh chứng có một không hai về sự tiến hóa của nền văn minh dân tộc Việt Nam trong lịch sử phát triển của một nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á. Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là nơi ghi đậm dấu ấn những giá trị biểu đạt văn hóa và những sự kiện mang tầm vóc ý nghĩa toàn cầu. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa; Tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực và các tầng di tích di vật phong phú. Rồng đá trên thềm Điện Kính Thiên - trung tâm của Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Chinhphu.vn. Bà Hằng cho biết, Ủy ban di sản thế giới đã công nhận khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long dựa trên 3 tiêu chí. Đó là những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban)… để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng. Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một nghìn năm. Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Ngoài ra, di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Từ năm 2006, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được bảo vệ, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa Thế giới. Hồ sơ được đăng ký từ tháng 9/2008, đệ trình UNESCO từ tháng 1/2009, được UNESCO tiến hành các quy trình thẩm định chặt chẽ thông qua cơ quan tư vấn IOCMO, và đến nay đã được Ủy ban di sản thế giới công nhận di sản văn hóa Thế giới. Trước Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Việt Nam đã có 5 di sản thế giới, gồm 3 di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế - 1993, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn - đều năm 1999) và 2 di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long - 1994, được công nhận mở rộng vào năm 2000 và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - 2003.   Di Sản Văn Hóa Thế Giới - (vnexpress)

  • Đi tàu lửa ngắm núi tuyết Thụy Sĩ
  • Đi tàu lửa ngắm núi tuyết Thụy Sĩ

    Ngày : 09/09/2017

    Đi từ Zermatt đến St. Moritz và ngược lại, xe lửa Glacier Express vượt qua 291 chiếc cầu, 91 đường hầm xuyên núi và qua đèo Oberalppass ở độ cao kỷ lục 2.033m. Khi đã ngồi trong toa panorama của đoàn tàu thì chẳng ai mong đến đích thật nhanh, kể cả khi thời tiết không được thuận lợi, để được ngắm nhìn cảnh quan cho mãn nhãn.Ngày chúng tôi đi thời tiết không thật đẹp. Cô bạn đang sống ở Geneva phải mua vé từ trước chuyến đi cả vài tháng để giữ chỗ nên chuyện thời tiết là may rủi. Trong khi đợi đến giờ lên tàu, chúng tôi có thời gian khám phá thị trấn Zermatt, điểm xuất phát của chuyến tàu. Cây cầu vượt núi Landwasser cao 65m, dài 142m nằm trên tuyến đường đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới Hồ nước trên núi cao Zermatt là một thị trấn nhỏ nhưng rất nổi tiếng với nhiều đặc trưng của Thụy Sĩ: có ngọn núi nổi tiếng nhất Thụy Sĩ với đỉnh Matterhorn trứ danh ở độ cao 4.738m. Muốn đến gần hơn đỉnh Matterhorn, du khách phải đi tàu Gornergratbahn lên Gornergrat, từ đây có thể chạm tay vào sông băng Gorner và thỏa thuê ngắm hơn 20 đỉnh núi đều cao trên 4.000m. Còn những người mê trượt tuyết tha hồ phóng vun vút trên những đường trượt tuyệt đẹp của Zermatt. Giáo đường cổ kính và thanh lịch Tàu Glacier Express băng qua núi đồi và thảo nguyên Dù vẫn còn say mê những ngôi nhà gỗ nâu đậm màu thời gian tại thị trấn yên bình này nhưng chúng tôi đành luyến tiếc rời khỏi khu trung tâm, hướng về phía nhà ga nơi con tàu chuẩn bị xuất phát. Tàu màu đỏ có 13 toa, toa panorama với khung kính cực rộng để khách có thể thoải mái ngồi ngắm cảnh bên ngoài. Hôm ấy trên đoạn đường từ Zermatt đến Brig, ông mặt trời vẫn độ lượng chiếu những tia nắng vàng khiến những cánh đồng hoa cỏ hai bên đường rực rỡ hơn. Ngay các vạt hoa cỏ dại cũng được chăm chút với các vòi phun nước đặt khắp nơi, tự động phun theo phần mềm cài sẵn.Tới giờ ăn trưa, chúng tôi thưởng thức các món ăn mua từ dưới ga mang lên: dâu rừng ngọt lịm, thịt bò khô nổi tiếng của Thụy Sĩ, patê gan ngỗng hảo hạng và sôcôla tuyệt diệu. Không gì bằng ngồi trên tàu xịn ngắm cảnh đẹp lại được ăn ngon! Để vượt qua những đoạn dốc ngược con tàu phải đi qua những đường ray bánh răng. Có lẽ Thụy Sĩ là đất nước có nhiều đường tàu bánh răng nhất thế giới. Thị trấn Zermatt và đỉnh Matterhorn hùng vĩ Chúng tôi mải mê ngắm những cây cầu đá cao khổng lồ mà duyên dáng nối hai vách núi, những cánh đồng muôn sắc màu hoa dại, những hồ trên núi nước xanh biếc, hai bên bờ là làng quê và thị trấn nhỏ với những ngôi nhà gỗ xinh xinh, thi thoảng là những tháp chuông nhà thờ nho nhỏ lẩn khuất trong sương khói của một ngày nặng mây. Và những đỉnh núi của một trong những dãy núi nổi tiếng nhất thế giới - dãy Alps - gắn liền với bao huyền thoại.Qua bao nhiêu núi, vượt bấy nhiêu đèo chúng tôi mới đến St. Moritz vào buổi chiều tối hôm đó sau gần tám giờ ngồi tàu, khoảng thời gian khá dài nhưng dường như chúng tôi vẫn chưa muốn xuống ga. Dù giá vé tàu Glacier Express khá cao (140 euro, vé hạng hai), cả nhóm đã có một chuyến du lịch thật mãn nguyện ở đất nước lắm núi nhiều hồ này. Theo tuổi trẻ

  • Bia tiến sĩ Văn Miếu - 'pho sử đá' được vinh danh
  • Bia tiến sĩ Văn Miếu - 'pho sử đá' được vinh danh

    Ngày : 09/09/2017

    Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê và Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới vào chiều 9/3. Đây là Di sản tư liệu thế giới thứ hai của Việt Nam, sau Mộc bản triều Nguyễn. Trước thông tin này, ông Nguyễn Vinh Phúc chia sẻ: "Đây là thắng lợi của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, bởi báu vật lịch sử của chúng ta đã được thế giới biết đến. 82 tấm bia tiến sĩ là những trang sử bằng đá, lưu lại trí tuệ, văn hóa, tâm hồn và quan điểm giáo dục của các triều đại Việt Nam, sẽ tồn tại vĩnh viễn trong thời gian và ký ức của con người". Bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Hoàng Hà. Được coi là pho sử đá đồ sộ, 82 tấm bia, chia làm hai hàng, đặt hai bên Thiên Quang tỉnh, trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử giám, ghi tên tuổi của 1.304 tiến sĩ đỗ đạt trong các khoa thi tổ chức từ năm 1442 đến 1779. Nhận định về giá trị của Bia tiến sĩ Văn Miếu, ông Nguyễn Vinh Phúc nói: "Trước hết, đây là một di tích có giá trị lịch sử, ghi danh những danh nhân, trí thức của Việt Nam trong hơn 3 thế kỷ. 82 tấm bia cũng là tài liệu quý về địa lý, lịch sử. Bởi địa danh thay đổi theo thời gian. Những gì còn ghi lại trong những bia đá này ít nhiều sẽ giúp người đời sau tìm được tư liệu quý về dư địa chí. Đây cũng là nơi thể hiện quan điểm giáo dục, đào tạo con người của các triều đại Việt Nam, bộc lộ ngay trong tấm bia cổ nhất: 'Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh…'. Vì vậy, nó cũng có ý nghĩa đề cao đạo học. Hơn nữa, mỗi một tấm bia, ở một khía cạnh nào đó, còn là một công trình văn hóa, kiến trúc, thẩm mỹ". Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến chủ trương đề cao sự học, tôn trọng hiền tài, chăm lo giáo dục của các triều đại xưa thể hiện qua các văn bia. Ngoài ra, ông cho rằng, một thông điệp quan trọng nữa, ghi rõ trong các tấm bia là sự đòi hỏi nhân tài phải có đóng góp nhất định cho xã hội, tương xứng với vinh dự ghi danh bảng vàng bia đá mà họ nhận được. Các sĩ tử đua nhau sờ đầu rùa... Ảnh: Hoàng Hà. Như mọi di sản vật thể và phi vật thể khác, sự công nhận của thế giới cũng đặt ra cho Việt Nam yêu cầu khắt khe trong việc bảo quản và phát huy di sản. Ông Dương Trung Quốc cho rằng, những năm gần đây, Ban quản lý di tích cũng đã thực hiện rất tốt việc bảo vệ Văn Miếu nói chung và bia tiến sĩ nói riêng. Trước đây, 82 tấm bia từng phải nằm trầm mình trong mưa gió. Nhưng từ năm 1993, nhờ sự tài trợ của một tổ chức nước ngoài, hai dãy mái che đã được dựng lên để bảo vệ các cụ rùa đội bia. Bên cạnh đó, Ban quản lý cũng thắt chặt hơn nội quy đối với khách tham quan, đồng thời có nhiều hình thức quảng bá, tuyên truyền về Văn Miếu qua các ấn bản giới thiệu. ... và cầu may bằng cách biếu tiền cho các cụ rùa. Ảnh: Hoàng Hà. Tuy nhiên, trước lượng khách du lịch ngày một tăng, 82 tấm bia tiến sĩ cũng đang đối diện với những nguy cơ hư hỏng. Sự ngưỡng vọng của thế hệ sau dành cho truyền thống khoa cử của người đi trước đã tạo nên thói quen tín ngưỡng ở Văn Miếu. Hàng năm, vào dịp mùa thi, hàng nghìn lượt sĩ tử đua nhau đến sờ đầu rùa để lấy may. Nhiều người thậm chí còn ngồi, đứng lên cả các cụ rùa. Hiện tượng đó đã khiến cho nhiều đầu rùa bị bào mòn, các dòng Hán tự bị mờ dần. Trước thực trạng này, ông Dương Trung Quốc cho rằng, không dễ gì để xóa bỏ niềm tin của dân chúng trong ngày một ngày hai. Điều quan trọng là phải giáo dục để người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có ý thức hơn trong việc bảo vệ di sản. Để làm được điều đó, ông Quốc khẳng định, cần có hình thức giúp lớp trẻ đọc, hiểu được thông điệp trên các tấm bia thông qua việc chuyển ngữ, phát hành các tập sách hướng dẫn, giới thiệu về Bia tiến sĩ tại Văn Miếu. Ông Đặng Kim Ngọc - Giám đốc Trung tâm Văn Miếu cho biết - trong hồ sơ đệ trình lên UNESCO, Trung tâm cũng đã đề nghị Ủy ban UNESCO và Chương trình Ký ức thế giới quan tâm giúp đỡ trong việc bảo quản 82 tấm bia tiến sĩ - những di tích làm bằng chất liệu khá bền vững nhưng không thể vĩnh viễn với thời gian nếu không có những phương pháp bảo vệ đúng cách Theo Vnexpress

  • Nhà hát con sò Sydney - Australia
  • Nhà hát con sò Sydney - Australia

    Ngày : 09/09/2017

    Dù là đặc sản của nước Úc nhưng kiến trúc sư chính xây dựng công trình này lại là một người Đan Mạch, ông Jorn Utzon. Và người cắt băng khánh thành của Nhà hát vào ngày 20-10-1973 lại là một người Anh, Nữ hoàng Elizabeth II. Lịch sử của Nhà hát con sò Sydney Vào cuối những năm 1940, ông Eugene Goossens, giám đốc của Viện bảo tồn âm nhạc bang New South Wales đề xuất ý tưởng xây dựng một nhà hát rộng hơn so với Sydney Town Hall. Vào năm 1954, thị trưởng ban New South Wales Joseph Cahill đã đồng ý đề xuất này và phát động cuộc thi vẽ thiết kế cho Nhà hát Sydney.   Phòng hòa nhạc với sức chứa 2.679 khán giả Trong 233 ý tưởng gửi về, bản vẽ của ông Jorn Utzon đã được chọn. Công trình do ông Utzon thiết kế được xây dựng trong 18 năm, chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 (1959-1963) xây phần bục cao; giai đoạn 2 (1963-1967) xây phần mái hình con sò; giai đoạn 3 (1967-1973) trang trí bên trong. Lúc đầu phần mái của Nhà hát được Utzon thiết kế hình parabol và các kết cấu xây dựng trong phần 1 đều phục vụ cho bản vẽ này. Nhưng khi bước sang giai đoạn 2, các kiến trúc sư xây dựng cho rằng không thể xây phần mái hình parabol (vì nó vượt khỏi các quy luật vật lý) do đó ông Utzon đã phải thiết kế lại bản vẽ với hình con sò như hôm nay.   Quang cảnh nhìn từ bên trong một nhà hàng của Nhà hát con sò Sydney. Du khách có thể thấy kết cấu bê tông đúc sẵn Bản vẽ mới không những giải quyết được vấn đề mà còn giúp cắt ngắn thời gian hoàn thiện. Theo bản thiết kế cũ thì người thợ phải lát từng viên ngói trong khi đó ở bản vẽ mới, người ta có thể lợp ngói thành từng mảng lớn ở dưới đất rồi mới lợp lên khung.   Các kết cấu bê tông đúc sẵn nhìn từ dưới lên Mái ngói của Nhà hát con sò nhìn gần Vì một số biến động chính trị nên ông Utzon đã tự rút tên ra khỏi danh sách xây dựng công trình vào năm 1966. Khi ông Utzon ra đi, các kiến trúc sư còn lại đã thay đổi 4 chi tiết chính của Nhà hát con sò (so với bản vẽ của ông Utzon): thay đổi cách lát và vật liệu để lát, cấu trúc của các bức tường kính, chức năng của các phòng bên trong và trang trí bên trong. Các con số của Nhà hát con sò Sydney Lúc ban đầu chính phủ Úc dự tính vào năm 1963 một "Nhà hát parabol Sydney" sẽ hoàn thành với kinh phí là 7 triệu đô la Úc. Tuy nhiên trong thực tế một "Nhà hát con sò Sydney" đã ra đời với kinh phí 102 triệu đô la Úc và mất 18 năm (1959-1973) mới hoàn thành.   Nhà hát con sò Sydney trong khi đang thi công Nhà hát con sò Sydney và Cầu cảng Sydney Nhà hát con sò có chiều dài 185 mét, chiều rộng 120 mét được xây dựng trên Điểm Bennelong, nằm nhô hẳn ra cảng, nhìn qua Cầu cảng Sydney nổi tiếng. Bên trong nhà hát có 1.000 phòng lớn nhỏ khác nhau, trong đó 3 phòng chính là: Phòng hòa nhạc (2.679 chỗ ngồi), Nhà hát opera (1.547 chỗ), Sân khấu kịch (544 chỗ). Nhỏ nhất là nhà hàng Bennelong. Để hoàn thành công trình này, người ta đã phải sử dụng 1 triệu viên ngói granite trắng tráng men nhập từ Thụy Điển, 6225 mét vuông kính, 645 km dây cáp điện. Phần mái hình con sò nặng 15 tấn và được đỡ bằng 2.194 thanh bê tông đúc sẵn. Bên trong nhà hát người ta sử dụng vật liệu là than granite hồng và gỗ lấy từ New South Wales để trang trí.   Bản đồ một phần Sydney nhìn từ trên cao. Phần khoanh tròn là Nhà hát con sò Sydney Vở Chiến tranh và hòa bình của Prokofiev do đoàn Opera Úc thực hiện là vở diễn đầu tiên tại đây. Mỗi năm Nhà hát con sò Sydney thu hút được khoảng 200.000 người đến tham quan Nhà hát con sò trong khi số người vào đây xem hát nhiều gấp 10 lần. Theo tuoitre

  • Tranh Đông Hồ ứng cử Di sản văn hóa thế giới
  • Tranh Đông Hồ ứng cử Di sản văn hóa thế giới

    Ngày : 09/09/2017

    Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu, mỗi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được "sản xuất" với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng cầu kỳ nhiều. Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang), v.v. Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu mà thôi.

  • Taj Mahal - Ấn Độ
  • Taj Mahal - Ấn Độ

    Ngày : 09/09/2017

      Công trình kiến trúc nằm ở thành phố Agra bang Uttar Predesh, cách thủ đô New Delhi 200 km về phía nam. Agra vốn là thủ phủ của những hoàng đế Hồi giáo (Mughal) thống trị miền Bắc Ấn Độ từ thế kỷ 16 đến 19. Triều đại của Mughal thịnh vượng nhất vào các đời hoàng đế Akbar, Jehangir, và Shah Jehan. Mahal Mumtaz và Shah Jehan kết hôn năm 1612. Trong 18 năm chung sống, họ có tới 14 mặt con. Người vợ yêu dù bận rộn với vai trò làm mẹ vẫn không quên cùng chồng đi chinh chiến, trở thành nhà cố vấn và hậu cần cần mẫn với Shah Jehan, khiến ông nặng lòng tình cảm. Năm 1630, tại Burhanpur, Mahal đã qua đời ngay trên giường đẻ. Quá đau đớn trước sự mất mát, nhà vua lệnh cho xây lăng mộ đẹp và lãng mạn nhất trên trái đất. Ngay năm 1630, kiến trúc sư Ahmad Lahori được vời tới thực hiện công việc xây dựng. Thợ xây, thợ thủ công, nhà điêu khắc và các chuyên gia thư pháp từ Ba Tư được triệu tập. Kiệt tác kiến trúc gồm 5 khu: Darwaza (cổng chính), Bageecha (không gian vườn), Masjid (nhà thờ Hồi giáo), Naqqar Khana (nhà nghỉ) và Rauza (lăng Taj Mahal). Chạm khắc tinh xảo. Phong cách thiết kế là sự tổ hợp của kiến trúc Ba Tư, Trung Á và Hồi giáo. Điểm nổi bật nhất là sàn nhà bằng đá cẩm thạch chia ô bàn cờ đen và trắng, 4 tháp cao (khoảng 40 m) ở 4 góc và vòm tráng lệ ở trung tâm. Trên lối đi có cổng tò vò được khắc những dòng kinh Cô ran, gây ấn tượng mạnh với du khách. Sự tinh xảo và lộng lẫy hiển hiện rõ ràng trong từng cột đá, cứ 3 cm vuông được chạm khắc bằng 50 viên đá quý. T.T.

  • Stonehenge - Anh Quốc
  • Stonehenge - Anh Quốc

    Ngày : 09/09/2017

      Khi khách du lịch đến tham quan đây, thoạt tiên họ thường không cảm thấy có gì bí hiểm. Đó chỉ là những khối đá lớn. Đối với nhiều người, bản thân công trình không gây được ấn tượng đặc biệt, mà họ đặc biệt lưu ý đến một điều khác. Từ khoảng cách vài trăm bước chân đến Stonehenge, người ta nhận thấy rõ ràng có những hình thù đặc biệt, trông như in hằn trên cánh đồng. Khi lại gần thì thấy hình trên cỏ được tạo ra với độ chính xác lý tưởng. Các hình vẽ trong vùng Stonehenge thuộc loại đặc biệt: đất ở đây không hề bị động tới, nhưng cấu trúc của cọng cỏ bên trong các vòng đã thay đổi, như thể cỏ tự “nằm” theo một trật tự cần thiết. Những hình vẽ xuất hiện ở khu vực này đã làm cho các nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới rối trí. Ý nghĩa nào ẩn chứa trong các hình vẽ đó, ai đã để lại cho chúng ta, để làm gì và tại sao các hình vẽ lại xuất hiện đúng ở gần Stonehenge - nơi bản thân nó đã có tiếng xấu? Stonehenge là một trong những nơi bí ẩn nhất trên hành tinh. Cho tới nay vẫn chưa có thể nói được ai đã tạo ra những tảng đá lớn đó, và để làm gì. Ban đầu công trình là một vòng gồm 30 khối đá đứng thẳng (mỗi khối nặng 25 tấn), nối với nhau bằng những thanh ngang, bên trong vòng tròn còn có 5 cặp khối đá có thanh ngang ở trên. Đến ngày nay một số khối đá lớn đã không còn, nhưng công trình không vì thế mà mất đi vẻ hùng vĩ. Theo ý kiến các nhà khoa học, Stonehenge bắt đầu được xây dựng vào thế kỷ 19 trước Công nguyên và được hoàn tất vào vài trăm năm sau đó. Ở các mỏ đá, người ta đã đục ra những khối đá lớn, sau đó lăn chúng hoặc chở theo đường sông để đưa đến nơi xây dựng. Tại đó các tảng đá được chôn xuống đất 1 mét. Đá ở đây có 2 loại: những khối cứng chắc để tạo ra vòng ngoài của công trình và những khối đá mềm hơn lấy từ các vỉa than và quặng (do đó chúng được gọi là đá xanh), tạo ra vòng trong của Stonehenge. Các nhà khoa học cho biết những tảng đá xanh được lấy từ núi Prezeli, nằm cách Stonehenge khoảng 200 km, đủ để thấy người cổ xưa, khi chỉ có dây thừng và gậy, đã phải tốn bao nhiêu nỗ lực và sinh mạng để di chuyển chúng.  Có rất nhiều giả thuyết về những người đã xây dựng nên công trình bí ẩn này. Giả thuyết đầu tiên cho rằng, những khối đá khổng lồ do các thầy tế (druides) trong các bộ lạc cổ xưa dựng lên để thực hiện các nghi lễ trong dịp đông chí và hạ chí. Nhưng những người này lại xuất hiện ở vùng Albion không lâu trước thời đại Thiên chúa giáo - khi mà bóng của Stonehenge đã che cho khách bộ hành khỏi nóng nực. Tác giả một thuyết khác, Leon Stover, người Mỹ, tin rằng druides không liên quan gì đến công trình này, vì Stonehenge do những người Miken xây dựng lên để bảo vệ trước người Atlant. Tuy nhiên, hướng giả thuyết này vỡ tan ngay: chỉ cần nhìn vào Stonehenge là có thể hiểu được với công trình này không thể bảo vệ ai cả. Những khối đá cách nhau quá xa, do vậy người không thể ẩn nấp sau chúng để trốn tránh kẻ thù. Truyền thuyết về vua Arhur đưa ra giả thuyết khác: trong một trận đánh ác liệt, khoảng 300 chiến binh quả cảm nhất đã tử trận và nhà vua muốn xây lên một đài tưởng niệm lớn nhất trên nấm mồ của họ. Phù thuỷ Merlin, bằng phép màu kỳ diệu đã di chuyển các tảng đá từ Ireland (còn trước đó chúng được đưa tới châu Phi) đến miền nam nước Anh. Có vẻ là lạ, nhưng giả thuyết cho rằng người ngoài hành tinh tham gia xây dựng lên Stonehenge lại gây được sự chú ý hơn cả, bởi người ta có nhiều cơ sở để tin vào điều đó. Thứ nhất, trong thời kỳ từ 3.000 đến 1.500 năm trước công nguyên, ở châu Âu, đặc biệt là trên các đảo của nước Anh xuất hiện nhiều công trình bí ẩn, không giống gì hết. Không phải là nhà hay nhà thờ, mà là những tảng đá tạo thành các hình vẽ rất chuẩn (thường là hình tròn). Không có bằng chứng bằng chữ viết nào chứng tỏ chính người cổ xưa xây dựng lên chúng, còn đối với người hiện đại, hình dạng các công trình này làm chúng ta liên tưởng đến những vật thể bay không xác định (đĩa bay). Sau vài chục năm đưa ra các giả thuyết, thậm chí còn có cả ý kiến cho rằng đó là do những người khổng lồ một mắt lấy đá ném cho vui, trong một thời gian dài khoa học hầu như đã quên về Stonehenge. Nhưng khoảng 25 năm trước, một nhà nghiên cứu người Anh đưa ra giả thuyết hoàn toàn mới, theo đó Stonehenge không phải là đền thờ mặt trời, mà là một đài thiên văn cổ, nhờ nó vào 4000 năm trước người ta đã có thể tự tin xác định thời điểm có nhật thực và nguyệt thực. Theo ông Gerald Hoskins, tác giả của giả thuyết, những vòm đá khổng lồ đánh dấu các điểm mặt trời và mặt trăng lên đường chân trời. Nếu như nhà thiên văn học cổ đứng ở tâm đường tròn, thì mặt trời lần lượt xuất hiện ở chính những khối đá. Điểm mặt trời mọc vẫn thay đổi hàng ngày (do sự thay đổi độ nghiêng của trục trái đất), nhưng đường đi của mặt trời trên bầu trời trong mỗi năm vẫn như vậy. Những người cổ xưa theo dõi chuyển động của nó từ năm này qua năm khác và sau đó ghi lại kiến thức của mình trên Stonehang. Vòm đá mà trong đó mặt trời xuất hiện vào ngày hạ chí rộng hơn so với những chỗ khác, bằng cách đó những người xây dựng tách riêng những ngày mặt trời có hoạt động năng lượng cao. Tuy những điểm yếu trong lý thuyết này cũng không ít hơn so với các giả thuyết khác, song chính giả thuyết này đã đưa lịch sử của Stonehang sang một kỷ nguyên mới: nhân loại cuối cùng hiểu được rằng đó không phải chỉ đơn giản là những khối đá. Trong năm 2000, vào đêm ngày 20, rạng sáng 21/6 (ngày hạ chí), lần đầu tiên sau 16 năm Stonehenge đã được mở trở lại cho khách vào tham quan. Họ là những người muốn chứng kiến mặt trời lên ở đó. Vài ngàn người sùng bái druides đã vào chính giữa công trình, mà theo tín ngưỡng của họ là nơi tập trung sức mạnh đặc biệt. (Theo Khoa học và Đời sống)

  • Tượng Nữ thần Tự do - Mỹ
  • Tượng Nữ thần Tự do - Mỹ

    Ngày : 09/09/2017

    Bức tượng này được tạo ra tại nước Pháp. Ngày 4/7/1884, Pháp chính thức giao cho đại sứ Mỹ, coi như là tặng phẩm của nhân dân Pháp dành cho nhân dân Mỹ. Ngay sau đó, Nữ thần được tách rời, đóng gói, dùng tàu chở đến New York, và lắp ghép lại ở đảo Bedloe (hiện là đảo Tự do), do nước Mỹ xuất vốn xây dựng bệ khổng lồ. Tượng Nữ thần Tự do. Bệ do kiến trúc sư Mỹ Richard Morris Hunt thiết kế cao 47 m, tượng Nữ thần cao 46 m, khiến chỏm ngọn đuốc cao hơn mặt đất tới 93 m. Tượng nặng 229 tấn, lưng rộng 10,6 m, miệng rộng 91 cm, tay phải giơ ngọn đuốc lửa dài 12,8 m, chỉ riêng một ngón tay trỏ cũng dài 2,4 m. Trên chân Nữ thần có xiềng sắt tượng trưng cho việc lật đổ chính quyền tàn bạo, tay trái nắm bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trên mũ đầu Nữ thần là bảy đường tia sáng chiếu khắp bảy đại dương, bảy đại châu. Trong ruột Nữ thần có cầu thang xoáy chôn ốc, giúp du khách leo lên được vùng đầu, tương đương với leo một ngôi nhà lầu cao 12 tầng. Tượng Nữ thần Tự do bắt nguồn từ vấn đề chính trị nước Pháp. Năm 1865, Napoleon III lên ngôi, một học giả tên Edouard de Laboulaye cùng người trong nhóm của ông hy vọng chấm dứt chế độ quân chủ, xây dựng một nước Cộng hòa Pháp mới, nên chuẩn bị tạo dựng tượng Nữ thần Tự do biểu đạt sự tán dương của họ đối với quốc gia bên kia bờ Đại Tây Dương, và khích lệ lòng đồng tình giữa nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ. Nhà điêu khắc trẻ tuổi Fréderic Auguste Bartholdi dưới sự khuyến khích của Laboulaye suy tính thiết kế công trình này. Bartholdi hy vọng tạo nên một tháp đèn Nữ thần khổng lồ giơ cao đuốc trên kênh Suez, thể hiện ánh sáng tiến bộ đã xuất hiện ở Á châu. Ông bắt tay vào công trình với lòng nhiệt tình lớn. Tác phẩm Nữ thần Tự do của ông chịu ảnh hưởng nhiều từ bức tranh nổi tiếng Thần tự do dẫn đường mọi người của họa sĩ Delacroix, với khuôn mặt nữ thần giống với thần thái nghiêm nghị của mẹ ông. Tượng Nữ thần đồ sộ buộc Bartholdi và công trình sư của ông (Alexandre Gustave Eiffel - người sáng lập tháp sắt Eiffel) phải giải quyết vấn đề kỹ thuật hóc búa. Eiffel tạo một khung sắt tinh xảo có giá đỡ phụ tại trung tâm chống đỡ. Lớp ngoài tượng chỉ 2,4 milimet chiều dày nhìn thấy được, đặt trên giá khung linh hoạt này. Bartholdi bắt đầu chế tác trước một mô hình tượng cao 1,2 m, rồi làm đi làm lại 3 cái, mỗi cái đều lớn hơn cái trước, cho đến khi đạt được quy mô lớn và tốt nhất. (Theo sách 100 kỳ quan thế giới)

  • Kim tự tháp Giza - Ai Cập
  • Kim tự tháp Giza - Ai Cập

    Ngày : 09/09/2017

    Kim tự tháp Giza. Trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, chỉ có các Kim tự tháp Giza là còn tồn tại. Mặc dù đã bị mất đi rất nhiều lớp vỏ bọc bằng đá vôi trắng, cùng các đền thờ bao quanh đã bị đổ nát, nhưng chính kích thước của những công trình hùng vĩ này vẫn khiến du khách phải sửng sốt. Công trình vươn lên như một trong số những thành tựu đáng ngạc nhiên nhất trong lịch sử, nhưng thậm chí ngay cả hiện nay các phương pháp được những thợ xây cổ đại áp dụng vẫn còn là vấn đề nhiều tranh cãi. Thực tế có hơn 80 Kim tự tháp ở Ai Cập, được xây dựng trong khoảng thời gian hơn 100 năm, nhưng các Kim tự tháp ở Giza là lớn nhất và được bảo quản tốt nhất nhờ vào tính chắc chắn của công trình. Kim tự tháp Giza do ba vị vua thuộc vương triều thứ tư xây dựng: Khufu (còn gọi là Cheops), Khafre (Chephren) và Menkaure (Mycerinus). Kim tự tháp Khufu (khoảng 2551-228 tr.CN) lớn nhất và còn được gọi là Kim tự tháp lớn. Với hơn 4.000 năm tuổi, đây là công trình được xây dựng cao nhất trên thế giới. Ý nghĩa Các kim tự tháp Ai Cập thuộc Cổ hay Trung vương triều đều là thượng tầng kiến trúc của các lăng mộ hoàng gia. Sự chắc chắn và đồ sộ của công trình nhằm mục đích bảo vệ thi hài của nhà vua, nhưng việc chọn lựa hình dáng kim tự tháp phải có sự nghiên cứu biểu tượng đáng kể. Kim tự tháp nhằm mục đích giúp nhà vua thăng thiên, hình dáng thường được giải thích như một đoạn đường dốc hướng lên bầu trời. Kim tự tháp cũng liên kết với các gò đất nguyên thủy hình thành do sự xáo trộn các khối nước vào thời điểm xây dựng. Ngoài ra, hình dáng kim tự tháp có thể là biểu tượng mặt trời, tượng trưng cho các tia nắng mặt trời chiếu chếch ở dạng rắn nổi lên, đôi khi nhìn thấy tia nắng chiếu xuyên qua mây. Dù sự giải thích hình dáng như thế nào, điều rõ ràng là người Ai Cập đã cố gắng xây dựng công trình cao nhất có thể, một khối lượng lớn gồm công trình bằng đá xây dựng theo hình kim tự tháp có lẽ là phương pháp thành công nhất để đạt đến ước vọng này. Bản thân kim tự tháp chỉ là một bộ phận trong tổ hợp chôn cất hoàng gia. Mỗi kim tự tháp đều tọa lạc trong một vùng đất, bao quanh là khu đền tang lễ nằm ở cạnh phía Tây, cũng có một ngôi đền trong thung lũng gần con sông nối liền với ngôi đền phía thượng lưu bằng bờ đất đắp cao chạy dài trang trí bằng những tác phẩm chạm nổi. Bờ đất đắp cao ở kim tự tháp Khufu vẫn còn khi Herodotus tham quan Giza vào thế kỷ 5 tr.CN. Theo ông quan sát, hầu hết các trang trí chạm trổ trên các vách đều gây ấn tượng cũng như chính bản thân kim tự tháp. Mặt bằng bố cục và chuẩn bị địa điểm xây dựng Điều quan trọng là phải chọn địa điểm xây dựng thích hợp. Vùng cao nguyên Giza được chọn do vị trí tầm nhìn bao quát hướng về thung lũng sông Nile và nằm ở bờ Tây - phía Tây thường đi đôi với mặt trời lặn và cái chết. Ngoài ra, dãy đá vôi trắng tạo ra một nền móng vững chắc chịu đựng trọng lượng đồ sộ của công trình và cũng là nguồn nguyên liệu thừa thãi trong việc xây dựng các phần lõi rắn chắc. Kế đến là chuẩn bị địa điểm xây dựng. Công việc bắt đầu bằng việc phác thảo sơ bộ, san lấp mặt bằng, hình thành một chân đứng chắc chắn, chẳng hạn như san lấp theo góc vuông và dây dọi, nhưng có thể đạt đến mức độ chính xác đáng ngạc nhiên: mặt bằng lối đi quanh kim tự tháp Khufu chỉ dao động 2 cm (khoảng 0,78 inch). Mặc dù khu vực quanh vùng cạnh đáy kim tự tháp được giảm xuống để tạo ra một nền móng bằng phẳng, nhưng đá tự nhiên bên trong thông số vẫn giữ nguyên để hình thành một phần lõi rắn trong công trình xây dựng bằng đá ở lớp phía dưới. Khi chuẩn bị xong địa điểm, các nhà khảo sát bắt đầu bố trí một góc vuông chính xác để làm cạnh đáy kim tự tháp. Mỗi kim tự tháp được sắp thẳng hàng sao cho các cạnh hướng về bốn phương chính. Đầu tiên, hoặc là cạnh hướng Đông hay cạnh hướng Tây được sắp thẳng hàng với hướng Bắc bằng cách quan sát các vì sao ở đường chân trời. Thêm một lần nữa, những người thợ xây Ai Cập rất chính xác: các cạnh của kim tự tháp lớn chỉ lệch khỏi hướng chính Bắc trung bình khoảng 3 phút trong một độ. Khi một cạnh được sắp thẳng hàng, các cạnh khác được xây dựng căn cứ theo cạnh vừa sắp thẳng hàng về mặt hình học và được đánh dấu trên lối đi. Trong những năm gần đây, có nhiều nỗ lực có ý nghĩa trong việc nghiên cứu mặt bằng bố cục theo đường chéo của ba kim tự tháp quan trọng Giza. Điều không chắc chắn rằng, có bất cứ quy hoạch tổng thể cơ bản nào trong việc xây dựng, vì các kim tự tháp xây dựng ở những thời gian khác nhau và dự án riêng biệt. Vả lại, các vùng đất bao quanh kim tự tháp không liên kết với nhau như người ta vẫn tưởng đã có quy hoạch tổng thể. Mặt bằng bố cục theo đường chéo góc là kết quả trực tiếp trong tiến trình xây dựng, các kim tự tháp được gióng thẳng hàng theo hướng chính Bắc, vì thế mỗi kim tự tháp được xây dựng chếch theo rìa cao nguyên và bị công trình có trước cản lại nhằm giữ cho ngay hàng, không cản tầm quan sát các ngôi sao phương Bắc để gióng hàng cho chính xác. Khai thác, vận chuyển đá Đá tảng được dùng làm lõi trong tháp. Đá tảng sử dụng làm lõi trong Kim tự tháp lớn được khai thác từ mỏ đá nằm ở phía Nam kim tự tháp, cũng cùng phương pháp áp dụng để đào đường hào quanh tượng Nhân sư. Thế nhưng, những người thợ xây xác định chất lượng đá vôi trắng ở địa phương quá kém đến mức không thể làm lớp vỏ bọc ngoài, vì thế phải vận chuyển đá vôi trắng mịn vượt sống ở Tura đến cảng nằm ở ven cao nguyên. Bình quân mỗi tảng đá sử dụng trong kim tự tháp cân nặng 2,5 tấn, mặc dù người ta đã làm giảm kích thước hướng về phần đỉnh của tảng đá. Ngoài ra, đá granite được vận chuyển từ Aswan, cách địa điểm xây dựng 935 km (580 dặm) về phía Nam. Để gióng thẳng hàng với phòng chôn cất và tạo ra các nút chặn không thể xâm nhập vào các hành lang bên trong để làm nản chí những tên ăn trộm mộ. Đá granite cũng được sử dụng ở lớp đá thấp nhất trong lớp vỏ bọc kim tự tháp Khafre, và ít nhất có trong 16 lớp đá dưới đáy kim tự tháp Menkaure. Khi đến cảng, các tảng đá được chất lên các thanh trượt bằng gỗ, kéo bằng dây thừng đến cạnh đáy kim tự tháp. Số lượng các toán nhân công kéo một tảng đá thay đổi tùy theo trọng lượng của tảng đá. Một trong những tuyến đường vận chuyển dẫn đến kim tự tháp thuộc thời trung vương triều nằm ở Lisht đã được khai quật. Người ta phát hiện có nhiều thanh gỗ phẳng đặt trên đường lăn gỗ nằm trên lớp đất bùn cứng: một con đường như thế sẽ giảm lực ma sát đáng kể và tăng khối lượng chất hàng lên các thanh trượt. Trái với suy nghĩ của nhiều người, các kim tự tháp không phải do nô lệ, mà do lao dộng đến tuổi đi lính, tham dự. Ít nhất một số trong lực lượng lao động này thường trực, nhưng phần nhiều là lao động thời vụ: có lẽ mùa hè số nhân công tập trung đông nhát vì lũ sông Nile hàng năm cản trở việc thi công. Ngoài những người trực tiếp xây dựng kim tự tháp, còn có một hệ thống cung ứng khổng lồ khác để tiếp lương thực cho công nhân. Theo các hướng tính gần đây, kim tự tháp Khufu đã sử dụng một lực lượng 20.000-30.000 lao động, và số này làm nhà ở gần công trường. Đường dốc và xây dựng Một trong những khía cạnh thường gây tranh cãi trong việc xây dựng kim tự tháp là cách đưa các tảng đá lên cao trong công trình. Nhiều sơ đồ khác nhau diễn tả việc dựng, bẩy và kéo các tảng đá đã được nghiên cứu, và hiện nay hầu hết các học giả đều nhất trí rằng người ta đã sử dụng một số loại đường dốc, sau khi kim tự tháp hoàn tất, số đường dốc này được tháo dỡ. Ở Giza, mặc dù không có chứng cứ nào rõ rệt cho thấy đường dốc được bảo quản, nhưng số đá vụn và đá nhỏ rải trên mặt đường lấp đầy các khu mỏ đá ở Khufu có thể xem là phần còn lại. Chứng cứ từ những địa điểm khác đưa ra giả thuyết người ta đã sử dụng nhiều loại đường dốc khác nhau. Có thể gạt bỏ một số vì lý do thực tiễn: không đủ không gian để làm một con đường dốc thẳng dẫn đến đỉnh kim tự tháp trong khi đường dốc hình xoắn ốc có lẽ sẽ che khuất các góc bên trong kim tự tháp, dẫn đến việc sai lệch trong khi thi công. Dường như có những giải pháp khác nhau để dựng các tảng đá trên cao được áp dụng khi việc thi công đang tiến triển. Có khoảng 96% thể tích của một kim tự tháp nằm dưới 2/3 phần đáy, trong khi thi công các lớp đá phía dưới, người ta tạo ra nhiều đường dốc nhỏ để đảm bảo mang được nhiều đá lên các tầng đang thi công. Đối với phần đỉnh kim tự tháp, số lượng đá sẽ chậm hơn vì việc đưa đá lên cao càng khó hơn, và ngay tại đỉnh, phải có nhiều cải tiếng đáng kể mới dựng và định vị được các tảng đá. Mỗi tảng đá được tạo hình để vừa khít các tảng bên cạnh. Mỗi tảng đá được tạo hình khi di chuyển đến vị trí sau cùng sao cho chúng vừa khít với các tảng đá bên cạnh: các tảng đá làm vỏ bọc của kim tự tháp lớn được lắp khít khao đến mức không thể để lọt lưới dao vào khe hở. Người ta dùng chất vữa thạch cao để trám bất cứ khe hở nào và cũng sử dụng như dầu bôi trơn giúp cho việc định vị các tảng đá được thuận tiện. Dường như các tảng đá đặt ở góc đều được lắp và đẽo gọt khi bắt đầu thi công mỗi lớp đá để bảo đảm mỗi lớp đá đều gióng thẳng hàng. Người ta đo các đường chéo góc để kiểm tra công trình có vuông góc hay không, trong khi ngắm các góc để tránh bị xoắn góc. Bố cục bên trong kim tự tháp Kim tự tháp của Khufu mang nét độc đáo về tính phức tạp trong việc sắp xếp bên trong. Có ba phòng trong: phòng thấp nhất được tạo thành từ lớp đá bên dưới kim tự tháp trong khi hai phòng phía trên được xây dựng bên trong kim tự tháp. Phòng của nhà vua hoàn toàn nằm thẳng hàng với đá granite đó ở Aswan, bên trong có cả quan tài đá cũng bằng cùng loại đá này. Phía trên phòng của nhà vua là năm phòng giải trí, bên trên lợp mái với các dầm granite rất to, thiết kế để làm chệch trọng lượng của kim tự tháp ra khỏi trần nhà của phòng chôn cất, trong Hành lang lớn dẫn đến Phòng của nhà vua, đầu cuối cùng được đỡ bằng rầm chìa. Những thân cột hẹp khoảng 20 cm (8 inch) vuông dẫn từ hai phòng phía trên và sắp thẳng hàng dưới về chòm sao Orion, và các ngôi sao ở đường chân trời, giúp cho “linh hồn của nhà vua băng hà đi đến các vì sao này. Giới kiến trúc sư cũng nghĩ ra khung lưới sắt công phu và cơ chế nút chặn để bịt kín các hành lang vào, nhưng sau này các tên trộm đã đào đường hầm quanh hệ thống. Các phòng bên trong kim tự tháp Khafre và Menkaure nằm phía dưới mặt đất, được đào từ lớp đá nền. Kim tự tháp Khafre chỉ có hai phòng đơn giản với trần nhà đóng kín, trong khi kim tự tháp Menkaure có một dãy các phòng và lối đi tuy nhỏ nhưng phức tạp hơn, một trong số này có trang trí. Hoàn tất kim tự tháp Trong khi các cạnh của những tảng đá bao được đẽo gọt tạo hình khi lắp đặt, thì mặt ngoài của tảng đá vẫn chưa trau chuốt cho đến khi hoàn tất kim tự tháp: đá dư bảo vệ lớp bọc trong khi thi công các tầng phía trên. Công việc trau chuốt sau cùng diễn ra theo trình tự từ trên đỉnh xuống. Lúc nhân công di chuyển từ các cạnh của kim tự tháp xuống, thì các đường dốc xây dựng được tháo giàn dần. Phần lớn lớp vỏ bao bằng đá granite thuộc lớp đá phía dưới kim tự tháp Menkaure không được trau chuốt trong khi thi công đều bị hủy bỏ, vẫn còn nhìn thấy nhiều phần lồi trên các tảng đá. Ngoài đường hầm kim tự tháp Giza, phần lớn vẫn còn nguyên vẹn cho đến thời Trung cổ, lúc ấy việc khai thác đá đều theo hệ thống. Yêu cầu cần phải có đá vôi trắng mịn cho các công trình ở Cairo, người ta nhận thấy việc di chuyển các tảng đá làm lớp vỏ từ kim tự tháp còn dễ hơn việc khai thác nguyên liệu mới nhiều. May thay, một phần nhỏ các lớp đá bao trên đỉnh kim tự tháp Khafre vẫn còn, tạo ra sự thoáng hiện trêu người so với diện mạo nguyên thủy. Việc thám hiểm và vẽ bản đồ cao nguyên Giza đã được tiến hành từ thế kỷ 17 và hiện nay vẫn đang tiếp tục. Người ta tiến hành nhiều cuộc quan sát và khai quật tỉ mỉ nhằm tìm kiếm thông tin về cách xây dựng và con người đã tham gia xây dựng các công trình phi thường này. (Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)

  • Petra - A Rập
  • Petra - A Rập

    Ngày : 09/09/2017

      Petra không có màu đỏ của hoa hồng, không đủ yêu cầu của một thành phố, thậm chí có vẻ giống một nghĩa địa công cộng tựa như bia kỷ niệm, với những ngôi nhà làm bằng đất... nhưng không khí thần bí nơi đây khiến nó có sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi. Thế kỷ 6 trước công nguyên, bộ lạc du mục Nabateans khống chế khu vực kéo dài giữa Aqabah và Biển Chết, ở miền đông sông Arabegan. Do khống chế đường thông mậu dịch quan trọng, người Nabateans trở nên lớn mạnh, giàu có, trong đó Petra là di sản của họ. Quần thể bia mộ ở đây từng được người dân coi là nhà cửa, nhưng giờ thì họ đã nhận thức được là những phần mộ. Những ngôi mộ này được đục trong nham thạch, cao hơn mặt nước biển gần 1.000 m. Có đồ án tinh tế trang nhã, cũng có đồ án với trang sức nóc tường đầu hồi kiểu bậc thang đặc sắc thể hiện phong cách kiến trúc Ai Cập. Trọng tâm kiến trúc đặt ở mặt chính, bên trong không hề có trang sức nào. Thành phố cổ Petra. Năm 106, Petra trở thành một bộ phận của đế quốc La Mã, có tất cả những kiến trúc mà văn hóa cổ La Mã thường có như quảng trường, nhà tắm công cộng, nhà hát... Nhưng đi theo sự hưng thịnh của thành cổ Balmira, phương thức mậu dịch xảy ra biến hóa, Petra trở nên sa sút. Trong vài trăm năm, nơi đây chỉ được dân bộ lạc bản địa biết tới. Năm 1812, Petra được phát hiện lại. Nhà thám hiểm Thụy Sĩ John Bechat, người nói được tiếng Ảrập lưu loát, ăn mặc giống như người Hồi giáo đã thuyết phục người hướng đạo bản địa với mong muốn có thể kính dâng trước mộ một con sơn dương. Người hướng đạo dẫn Bachat dọc theo Sikh - một khe núi hẹp lún sâu trong nham thạch, con đường mà du khách ngày nay muốn tham quan nhất định phải đi qua - đến trước một vật thể kiến trúc lạ lẫm. Tòa kiến trúc này được gọi là "kho báu", mang hoàn toàn phong cách cổ điển. Khe núi mở lộ ra một bên kho báu, hiện ra nhiều phần mộ đào vào trong nham thạch. Những mộ này do sa thạch cấu thành, trộn lẫn với rất nhiều màu sắc. Có nhiều vật điêu khắc bị phơi trong gió, biến dạng không nhận ra nổi. Nhiều chứng cớ về phương diện khảo cổ học chứng tỏ, Petra ban đầu không phải là màu đỏ hoa hồng, cũng không phải màu hồng nhạt mà được tô điểm bằng bùn xám, khác xa với những gì hiện tại. (Theo sách 100 Kỳ Quan Thế Giới)

  • Tìm lại pháo đài ẩn náu cuối cùng của người Inca
  • Tìm lại pháo đài ẩn náu cuối cùng của người Inca

    Ngày : 09/09/2017

    Một học giả người Anh, ông Peter Frost, thành viên nhóm thám hiểm, cho biết đã phát hiện khu phế tích này 3 năm trước đây, trong vùng Vilcabamba lởm chởm đá, biệt lập với thế giới bên ngoài, cách thủ đô Lima của Peru 480 km về phía đông nam. Tất cả những di vật còn lại là các bục giảng tôn giáo, tháp chôn người và nhà chứa lương thực, cùng với rất nhiều mảnh gốm vỡ - dấu tích của pháo đài Corihuayrachina. Pháo đài này được xem là phát hiện lớn nhất về nền văn minh Inca kể từ năm 1964 tới nay. Theo các nhà nghiên cứu, chiến binh Inca đã lánh nạn ở dãy núi này trong cuộc nổi dậy cuối cùng chống lại ách cai trị của người Tây Ban Nha. Khu vực này chưa hề được khoa học biết tới. Lá cây và dây leo bao phủ khắp các tòa tháp và những ngôi mộ âm u. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là giai đoạn phám khá đầu tiên. Các nhà khoa học sẽ tiếp tục tìm hiểu về cư dân của Corihuayrachina, chẳng hạn họ sống như thế nào và tại sao họ lại chọn vùng đất không mến khách này để cư ngụ. Giống như hầu hết các đền, điện thờ, lăng mộ trên khắp quốc gia ở vùng núi Andes này, khu vực mới được phát hiện cũng hay bị những kẻ phá mộ ở địa phương cướp bóc, và nay chỉ còn lại những mảnh gốm và xương người. Nhưng khác với Machu Picchu - được tìm ra từ năm 1911 - vùng đất này không phải là quê hương của tầng lớp quý tộc Inca. Tại đây chỉ có vài chiếc móng bằng đá, cao 60-90 cm, là phần còn lại của cấu trúc cổ (được xây dựng cơ bản bằng gạch sống hoặc gỗ). Đồ gốm được khai quật tại khu vực này. Người Inca từng một thời sinh sống tại dải đất rộng lớn ở Nam Mỹ, chạy dọc từ Colombia tới Chile. Nhưng vào năm 1533, Francisco Pizarro (cùng với băng đảng gồm 160 tay thợ săn kho báu người Tây Ban Nha của ông ta), bằng súng thần công và ngựa, đã kết thúc thời huy hoàng của đế chế này trong biển máu. Một đoàn 50.000 người Inca chạy tới vùng núi Vilcabamba xa xôi, tiếp tục cuộc chiến chống lại những kẻ xâm lược trong gần 40 năm sau đó. Không chỉ có súng ống và bạo lực, người châu Âu còn gieo rắc lên mảnh đất này những căn bệnh lạ như sởi, khiến đế chế Inca thêm suy sụp. Dân số của họ từ khoảng 32 triệu người năm 1520 tụt xuống còn khoảng 5 triệu người vào năm 1548. “Chúng tôi đang cố gắng chắp vá lại lịch sử của miền đất, bằng những phát hiện ngày càng đáng kinh ngạc", Frost nói. B.H. (theo Reuters, NYT)

  • Kiyomizu - Nhật Bản
  • Kiyomizu - Nhật Bản

    Ngày : 09/09/2017

    Tòa tháp 3 tầng. Cánh tây của đền (Sai-mon) được xây dựng vào thập kỷ 1630. Tượng trong chính điện. Nơi thờ Phật tổ Như Lai. Khu vườn phía tây nam đền. Sớ cầu nguyện của Phật tử treo ở phía đông đền Kiyomizu.  Toàn cảnh chính điện. H.T. (theo Asian Historical Architecture)

  • Vạn lý trường thành - Trung Quốc
  • Vạn lý trường thành - Trung Quốc

    Ngày : 09/09/2017

      Về quy mô, Vạn lý trường thành không có đối thủ. Trải dài khoảng 2.700 km theo một đường thẳng từ Shanhaiguan ở bờ biển phía Đông thuộc Hồ Bắc đến Jiayuguan thuộc Gansu ở phía Tây, nhưng chiều dài thực sự, kể cả các đoạn thành gấp đôi, gấp ba và thậm chí gấp bốn cùng các đường nhánh ở các đèo và các điểm chiến lược khác ít nhất cũng nhân chiều dài của trường thành lên gấp đôi. Nếu tính cả những đoạn lúc đầu của trường thành, chiều dài tổng cộng gần 10.000 km, lớn hơn chu vi trái đất 20%. Hiện còn khoảng 20.000 tháp canh trên trường thành và 10.000 tháp canh hay truyền tin riêng biệt khác, số gạch đá của trường thành có thể xây dựng mười bức tường dày 1 m, cao 5 m vòng quanh trái đất. Tuy nhiên, trong thực tế, Vạn lý trường thành là một từ chung để gọi nhiều bức tường dài, xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử Trung Quốc. Từ đầu, trường thành không khác gì hơn là một công trình phòng thủ: đánh dấu ranh giới của nền văn minh. Đặc điểm Trung Hoa ở trường thành cũng mang đặc điểm thành phố, trường thành đánh dấu một đơn vị hành chính, tách biệt một nước Trung Hoa nông nghiệp, có tổ chức với tình trạng man rợ, vô tổ chức của các bộ tộc du mục thảo nguyên. Một góc nhìn về Vạn lý trường thành. Khi vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa năm 221 TCN, ông ra lệnh cho viên tướng Meng jian phải nối liền và mở rộng một loạt các đoạn thành trước kia, do các nhà nước mà ông xâm chiếm xây dựng để lập thành một tường chắn liên tục chống lại các bộ tộc cướp phá ở vùng biên giới phía Bắc và Tây Bắc. Sự gian khổ và hy sinh trong việc xây dựng Vạn lý trường thành đầu tiên này được đề cập đến rất nhiều trong thơ ca và truyền thuyết. Hơn 300.000 người bị bắt lính kể cả binh lính, nông dân, quan chức bị thất sủng, tù binh và học giả bất tuân mệnh lệnh “phần thư khanh nho” (đốt sách giết kẻ sĩ). Làm việc ở những vùng núi non hay sa mạc, trong cái nóng và lạnh cực độ, không đủ lương thực hay chỗ ở, người ta nói cứ xây dựng mỗi mét thành là có một người phải bỏ mạng. Từ lâu, trường thành phản ánh sức mạnh của Trung Hoa và thái độ của nước này đối với các bộ tộc du mục láng giềng. Trong thời điểm cùng tồn tại hoà bình, người ta xao lãng và để cho trường thành hư nát, lúc ấy các láng giềng của Trung Hoa hùng mạnh và thù địch, nên mới xây dựng lại trường thành như một công trình phòng thủ đối phó với các dân tộc có tài cưỡi ngựa điêu luyện ở vùng thảo nguyên. Nhà Hán (221 TCN), mở rộng trường thành đến mức dài nhất xưa nay, xây dựng một thành vòng về phía Tây để bảo vệ hành lang Hexi ở Gasnu, lối vào Con đường tơ lụa băng qua Trung Á. Nhiều tường thành sau này do các dân tộc không phải Trung Hoa xây dựng, những người đã chiếm đóng miền Bắc Trung Hoa, muốn tự bảo vệ mình trước các đợt xâm lược mới của kẻ xâm lăng. Hầu hết trường thành còn đến ngày nay đều được xây dựng từ thời nhà Minh (1368-1644). Uốn lượn dọc theo đỉnh núi, chiều rộng chân thành 6 m, cao khoảng 6 đến 8,7 m. Đường đi dọc theo các thành luỹ, lót bằng bốn lớp gạch, tường có lỗ châu mai xây cao để chống sườn ở cạnh ngoài, trong khi bờ công sự xây ở cạnh trong, chiều rộng đủ cho năm ngựa chạy song song.Ở các đèo và trong thung lũng, xây thêm tường thành phụ để làm công trình phòng thủ bổ sung. Tháp canh, đặt cách khoảng 70 m, được xây bậc thang bằng đá đi lên, có nhiều đường dốc đều đặn dẫn lên tường thành dùng cho ngựa. (Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)

  • Tháp Eiffel - Pháp
  • Tháp Eiffel - Pháp

    Ngày : 09/09/2017

    Tháp Eiffel rực rỡ trong đêm. (Frantisek Staud - Phototravels) Vào cuối thế kỷ 19, hơn 700 mẫu đã được gửi tới tham dự cuộc thi thiết kế để xây dựng biểu tượng của Paris, và mẫu của kiến trúc sư Alexandre Gustave Eiffel đã được lựa chọn, với sự đồng thuận rất cao. Hoàng tử xứ Wales (sau đó là vua Edward VII của Anh) đã tới dự lễ khánh thành năm 1889. Tuy nhiên, rất nhiều người cho rằng, tòa tháp cao 300 m đã hủy hoại vẻ đẹp của Paris. 300 nhân vật nổi tiếng, trong đó có Maupassant, Emile Zola, Charles Garnier và A. Dumas con đã gửi thư phản đối lên hội đồng thành phố. Bức thư có đoạn: “Chúng tôi, các nhà văn, họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư và những người yêu Paris kịch liệt phản đối và rất phẫn nộ khi thành phố xây dựng tháp Eiffel gớm ghiếc và vô dụng. Tên tuổi của Pháp, lịch sử và nghệ thuật của đất nước này đang bị đe dọa”. Đến nay, công trình “gớm ghiếc và vô dụng” này đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, với khoảng 5,5 triệu du khách mỗi năm. Tháp Eiffel nặng 7.000 tấn, được ghép lại từ 2 phần riêng biệt. Phần móng được dựng trên 4 cột trụ, còn tòa tháp hình búp măng thon nhọn đứng trên phần nền vững chắc. Tầng 1 của tháp cách mặt đất 57,63 m, có một đài quan sát để theo dõi các hoạt động trên tầng thượng. Du khách có thể mua một Eiffel thu nhỏ trong các cửa hàng bán đồ lưu niệm tại đây. Ngoài ra, đừng quên gửi cho người thân và bạn bè những tấm bưu ảnh từ bưu điện ở tầng 1, với các mẫu tem tháp Eiffel. Tầng 2 của tháp nằm ở độ cao 115,73 m. Tại đây, bạn có thể thấy toàn cảnh Paris, sử dụng kính viễn vọng và tiếp tục mua sắm. Các vị khách thượng lưu có thể dừng chân tại nhà hàng Jules Verne, nhưng nhớ gọi điện đặt chỗ trước. Tầng 3 của Eiffel cách mặt đất 276,13 m. Dù ngày hay đêm, phong cảnh thủ đô nước Pháp vẫn đẹp tuyệt diệu khi bạn quan sát từ khu vực này. Văn phòng riêng của Alexandre Gustave Eiffell đã được sửa sang lại, trong đó có treo một bức ảnh ông chào đón Thomas Edison. Tháp Eiffel đang được đề cử . Tháp Eiffel. (Frantisek Staud - Phototravels) Một số thông số của tháp Eiffel: Sử dụng 300 công nhân ngành thép và mất 2 năm xây dựng (1887-1889). 15.000 tấm sắt, nặng 8.092,2 tấn. 2,5 triệu chiếc đinh tán. 40 tấn sơn. 1.671 bậc thang. Chiều cao vào năm 1889: 300,51 m. Chiều cao khi lắp thêm anten truyền hình: 320,755 m. Chiều cao có thể thay đổi trong khoảng 15 cm, tùy vào tình hình thời tiết. Diện tích phần đế: 10.281,96 m2. Phần nền nặng 306 tấn. Toàn bộ tháp nặng 9.441 tấn. Thời gian xây dựng: từ 26/1/1887 đến 31/3/1889. Chi phí xây dựng: 7,8 triệu franc (1,5 triệu USD). H.T. (theo Discover France)

  • Tượng trên đảo Phục Sinh - Nam Mỹ
  • Tượng trên đảo Phục Sinh - Nam Mỹ

    Ngày : 09/09/2017

    Tượng trên đảo Phục Sinh quay lưng ra biển. Rải rác quanh bờ biển của đảo Phục Sinh, trên các tấm móng bằng đá đặt quay lưng ra hướng Thái Bình Dương xanh thẫm, một hàng tượng có vẻ dữ tợn một thời đứng sừng sững, với gương mặt thô kệch tạc ra từ loại đá tuff rất cứng tạo từ tro núi lửa, đôi mắt mở trừng trừng được khảm màu trắng, đỏ. Câu hỏi thế nào và tại sao những tảng đá nguyên khối như thế được tạc và dựng lên đã khiến các du khách và giới khảo cổ phương Tây từ thế kỷ 18 hao tốn bao công sức và trí tưởng tượng. Đảo Phục Sinh, tên gọi bản xứ là Rapa Nui, là một chấm nhỏ có người ở xa xôi nhất trên bề mặt trái đất. Vùng đất này có hình tam giác, cạnh dài nhất chỉ có 22 km, chiều rộng 16 km. Đảo Phục Sinh cách hòn đảo có người ở gần nhất, là đảo Picairn 2.250 km, và cách bờ biển Nam Mỹ 3.747 km. Xa xôi như thế nên chỉ khi có tàu thuyền hiện đại qua đây, người ta mới phát hiện kỳ quan này. Tuy nhiên, giới thuỷ thủ Polynesia dũng cảm đã chiếm các đảo rải rác trên Thái Bình Dương làm thuộc địa. Họ đến Rapa Nui từ năm 450 đến 690, dân số phát triển thịnh vượng trong khi hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài trong 1.000 năm. Hơn 1.000 bức tượng Những bức tượng này rất sống động. Tượng trên đảo Phục Sinh (còn gọi là moai) dễ nhận biết vì hình dáng và kiểu cách đặc biệt. Tượng chỉ có phần đầu và thân trên, đến một phần dưới thắt lưng, không nhìn thấy chân. Cũng có vai và cánh tay, nhưng cẳng tay đơn thuần là các tác phẩm chạm nổi đặt chéo qua phía trước bụng, bên dưới rốn. Ngón tay thẳng, hướng về một hình chữ nhật hay bầu dục có thể được hiểu là khố. Đôi lúc lưng tượng cũng tạc bằng tác phẩm chạm nổi thấp, với nhiều đường thẳng, cong và xoắn ốc tượng trưng cho các hoạ tiết hình xăm biểu thị địa vị xã hội. Thực tế không hề có hai tượng giống hệt nhau, điều này đặt giả thuyết rằng, đây có thể là chân dung của cá nhân, các bậc huynh trưởng trong bộ tộc. Phần chạm khắc sinh động nhất là phần đầu: miệng, mũi, cằm nhô ra, và hai đường chân mày lồi. Phần ót nhìn chung dẹt, nhưng đôi tai thon dài nổi bật ở cả hai bên. Về kích thước, tượng trên đảo Phục Sinh là số tượng người lớn nhất xưa nay từng tạc, chiều cao thay đổi từ 2 m đến 10 m. Ban đầu, tượng được đặt lên các tấm móng hành lễ (hiện còn khoảng 250-300 tấm), còn gọi là ahu, vòng quanh bờ biển của đảo, tượng lớn nhất đặt thành công là tượng Paro nặng 82 tấn. Lớn nhất trong tất cả các tượng, đặt tên thật thích hợp ElGigante (Người khổng lồ) dài 20 m, nặng khoảng 270 tấn, vẫn còn bỏ lại tại mỏ đá Rano Raraku quarry. Mỏ đá này còn 394 tượng bỏ phế. Mỏ Đá Có hàng trăm tượng cổ trên đảo, phần lớn tạc ra từ đá tuff luyện từ núi lửa rỗng ở mỏ đá Rano Raraku. Miệng núi lửa đã tắt. Đá rano raraku thích hợp cho việc tạc tượng, mặc dù một số ít tạc từ đá bazan hay san hô đỏ. Địa điểm mỏ đá vẫn còn bề bộn với nhiều tượng dang dở bỏ phế. Xung quanh chúng là hàng nghìn cuốc chim bazan, loại công cụ bằng đá cứng dùng để cắt đá và chạm trổ theo hình dáng. Bên dưới bề mặt bị phong hoá rất rắn, đá vẫn tương đối dễ tạc, mặc dù đá sẽ cứng hơn khi bị phơi sáng. Cuốc chim bazan là công cụ hữu dụng. Đổ nước vào đá rỗng có thể làm đá mềm, dễ cắt hơn. Thế nhưng, không có tiện ích của công cụ kim loại, việc tạc tượng chắc chắn mất nhiều công sức. Ước tính cho thấy, tượng Paro nổi tiếng có lẽ cần một nhóm từ 10 hay 20 thợ khắc và mất đến 12 tháng mới hoàn tất. Trước hết tạc khuôn mặt, rồi chạm trổ, chừa lại một sống đá để giữ tượng với vỉa đá bên dưới. Nét mặt và đầu hoàn thiện ngay tại chỗ trong mỏ đá, chỉ chừa đôi mắt để hoàn tất sau này. Vận chuyển tượng Khi tượng đã hoàn tất, người ta tách tượng ra khỏi tảng đá và hạ thấp dây thừng, thả tượng trượt theo đường dốc nghiêng trong mỏ. Phần sống lưng bức tượng chạy dọc theo đường rãnh, giúp kiểm soát việc thả dốc. Dây thừng buộc vào tượng quấn vòng qua các thanh gỗ thật to, đặt trong các lỗ quanh mép mỏ đá, vì trong nhiều thế kỷ không có loại cây lớn nào mọc ở Rapa Nui. Chứng cứ hoá thạch của quả hạch và rễ cho thấy xưa kia nơi đây có cọ, kể cả loại cọ sợi vàng Chile khổng lồ. Gỗ rất cần cho việc di chuyển tượng từ mỏ đến tấm móng hành lễ. Không phải tượng nào di chuyển cũng cần gỗ, điều này được chứng minh bằng việc các tượng dang dở bỏ lại rải rác trên đường, hầu hết tượng đều được di chuyển trong một cự ly ngắn. Một tượng lớn như Paro phải di chuyển 6 km. Một thử nghiệm tiến hành ở Mỹ sử dụng một phiên bản bằng bê-tông nặng 4 tấn bằng một bức tượng người trên đảo Phục Sinh cho thấy, chỉ cần 25 người là đủ sức kéo tượng nếu đặt tượng theo chiều thẳng đứng trên một thanh trượt bằng gỗ rồi kéo trên một lớp các con lăn nhỏ cũng bằng gỗ.  Giả thuyết khác cho rằng tượng phải di chuyển trong tư thế nằm ngửa hay thậm chí nằm sấp trong một nôi gỗ, và chắc chắn phải sử dụng một hệ thống như thế đến khi di chuyển lên xuống các dốc dựng đứng. Có thể các tượng được kéo từ mỏ ra biển, chất lên bè và trôi về điểm đến. Công đoạn sau cùng Hầu hết các tượng đều dự định dựng thẳng trên các tấm móng bằng đá vòng quanh bờ biển Rapa Nui. Dài 150 m, cao 3 m, những công trình xây bằng đá khan này càng gần biển càng tốt, nhưng tượng phải dựng ngó mặt vào đảo, chứ không nhìn ra biển. Chính các tấm móng cũng là điều đáng ngạc nhiên trong công trình, với phần lõi bằng đá hộc với các tảng đá lót đồ sộ, tạo dáng tỉ mỉ có bề ngang đến 3 m. Có lẽ người xưa dùng dây thừng, đường dốc và đòn bẩy gỗ để nhấc tượng đặt vào vị trí. Vào lúc này mới thêm mắt vào tượng. Năm 1978, khai quật bên dưới một tượng bị ngã cho thấy có nhiều dấu vết san hô trắng và xỉ núi lửa đỏ để làm tròng trắng và tròng đen của mắt. Chính đôi mắt tạo cho các tượng sức mạnh của thần linh, và thật đặc biệt, khi tượng ngã, hầu hết đều trong tư thế úp mặt xuống để giấu đôi mắt, trong khi các bức tượng ngã ngửa thì phần đôi mắt bị xoá mất bằng dấu búa nện. Đặc điểm sau cùng - đối với tượng gần đây nhất - là việc tạo ra một búi tóc giống như cái trống hay pukao làm từ xỉ núi lửa màu đỏ khai thác ở Puna Pau. Lớn nhất trong số này có bề ngang hơn 2 m, nặng hơn 10 tấn. Có lẽ phần búi tóc này được thêm vào sau khi đặt tượng vào vị trí bằng sự hỗ trợ của dây thừng và gỗ trắc. Phải chăng đây là tổ phụ của của cư dân Phục Sinh? Vấn đề còn lại là tượng thể hiện điều gì? Một số ý kiến cho rằng tượng là thần. Nhưng cách lý giải ngày nay được nhiều người nhất trí hơn đó là tổ tiên đáng kính, các bậc huynh trưởng đã khuất. Một số tượng được tạc ngay khi họ còn sống, nhưng chỉ hoàn tất và đặt vào vị trí khi họ mất. Nhu cầu về gỗ rất lớn, gây khó khăn mỗi lần dựng tượng thẳng đứng. Đây chắc chắn là một yếu tố khiến cho toàn bộ hệ thống sụp đổ. Nạn phá rừng, đất bạc màu dẫn đến đói kém và chiến tranh. Trong đó, rõ ràng tượng tổ tiên là mục tiêu hàng đầu của kẻ thù. Tượng vẫn còn đứng khi những người châu Âu đầu tiên đến đảo năm 1722. 50 năm sau tượng mới đổ. Ngày nay, một số tượng được phục hồi đặt lại đúng vị trí trên tấm móng ahu, có mắt và búi tóc. Tượng xếp thành hàng, nhìn vào trong đảo - đôi mắt hơi ngước lên và nhìn chằm chặp, như thể không làm người sống phải lo lắng. Tượng là một minh hoạ đáng chú ý về những gì đạt được bằng công nghệ tương đối đơn giản, nơi có niềm tin tôn giáo vững chắc và sự đua tài thật ấn tượng làm động cơ thúc đẩy.      (Theo sách 70 kỳ quan thế giới cổ đại)

  • Colosseum đấu trường La Mã - Ý
  • Colosseum đấu trường La Mã - Ý

    Ngày : 09/09/2017

    Quy mô đồ sộ, vẻ hùng vĩ cũng như cách cấu tạo thiết thực, hiệu quả trong việc tạo nên quang cảnh ấn tượng và kiểm soát đám đông khổng lồ đã biến Colosseum thành một trong những công trình kiến trúc vĩ đại nhất của La Mã cổ đại. Nhìn từ bên ngoài. Đấu trường là một cấu trúc hình ê-líp khổng lồ với các dãy bậc thang dùng làm chỗ ngồi cho 50.000 khán giả, vòng quanh một sân đấu trung tâm cũng hình ê-líp. Phía dưới sàn gỗ của đấu trường là một hệ thống phòng ốc và lối đi phức tạp dành cho các loài dã thú và những trang thiết bị phục vụ cho các màn trình diễn đẫm máu. 80 bức tường tỏa ra từ khu vực trung tâm, tạo ra các lối đi, bậc thang và các dãy ghế ngồi. Colosseum được thiết kế để chứa 50.000 người, và có tới trên dưới 80 lối ra vào để khán giả có thể đến và đi một cách dễ dàng, nhanh chóng. Tổng chiều cao công trình là khoảng 48,5 m, tương đương với một tòa nhà 12-15 tầng. Nhìn từ bên trong. Người La Mã được thưởng thức miễn phí những trận đấu ở Colosseum. Đó được coi là phần thưởng dành cho những công dân đã tham dự các bữa tiệc lớn của lớp người giàu có và nổi tiếng. Hoàng đế và giới quý tộc yêu cầu tổ chức trận đấu khi cần thu hút sự chú ý của thần dân. Dán mắt vào những màn trình diễn đẫm máu, người La Mã sẽ lãng quên đi những vấn đề quan trọng hơn. Ban đầu, cuộc chơi được tổ chức nhân danh các vị thần, chúng phải tuân theo quy định pháp luật và được coi như một nghi lễ tôn giáo. Về sau, khi tầng lớp thượng lưu thấy có thể thu lợi nhuận từ những dòng máu đổ ra tại Colosseum, tính linh thiêng đã bị lãng quên. M.L. (theo Greatbuildings

Copyright@2002 - 2017 lienbangtravel.comCty Liên Bang giữ quyền nội dung trên website này